Ca nhạc tặng thieu nhi , xiếc cho thieu nhi , phim ảnh cho thieu nhi , sàn diễn tặng thiếu nhi … và tất nhiên , chẳng thể thiếu , văn chương tặng thiếu nhi . Cụm từ “Văn học cho thiếu nhi” , thêm lần nữa , được nhắc đi nhắc lại đến nóng ran trên khắp các mặt báo , trong các hội thảo , các cuộc tọa đàm văn chương , trong nội dung nghề nghiệp của các nhà làm sách. Thế nhưng , xin hãy chậm lại để do dự một tý: Có hợp lý không , sự tồn tại của cái làm gọi là “Văn học tặng thieu nhi ”? Hãy chú ý tới từ “cho”. Động từ ngoại động “cho” khiến cả cụm từ “Văn học cho thiếu nhi” mang cái nghĩa rõ ràng rằng: tác phẩm văn chương này hướng về phía đối tượng tiếp thụ là thieu nhi . Nó cần thiết phải ăn nhập với tâm lý lứa tuổi và trình độ nhận thức , trình độ cảm biết cái đẹp của thieu nhi . Nó có xác xuất giúp thieu nhi tiêu khiển , nhưng đẹp hơn cả thì nó nên nêu ra trước bạn đọc còn ít tuổi một đôi bài học đáng giá nào đó về đời sống , về luân lý v.v… Tóm lại nó phải mang công năng của một công cụ giáo dục: Giáo dục bạn đọc còn ít tuổi trở nên những “con người tốt”. Ví như cách hiểu là như vậy thì ở đây chúng ta sẽ có vài điểm cần phải suy nghĩ: Thứ nhất , về phía đối tượng tiếp thụ ( thiếu nhi ) , điều quan yếu là được đọc tác phẩm văn chương thực sự đáng được coi trọng , chứ không phải là đọc tác phẩm ăn nhập với lứa tuổi của mình. ( Theo logic , không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả có quyền đặt ra một câu hỏi: Có “Văn học tặng thiếu nhi ” , lẽ nào lại không có “Văn học cho người cao tuổi”? ). Xin nói ngay rằng nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam khi còn ở tuổi thieu nhi đã say mê với Tam quốc diễn nghĩa , Thủy hử , Ba chàng lính ngự lâm , Những người cực khổ , Chiến tranh và hòa bình v.v… , thậm chí cả Gatsby vĩ đại , thanh âm và phẫn nộ , Buồn nôn , Người xa lạ hay Trăm năm đơn chiếc họ cũng không từ. Minh họa: Lê Phương. Toàn những tác phẩm quá đỗi… người lớn! Và rồi… chẳng có gì gây thiệt hại xảy ra hết , ngoài việc nhờ đọc những tác phẩm ấy mà họ càng trở nên là những bạn đọc lý tưởng của văn chương thứ thiệt. Rỏ rành , các nhà “thieu nhi học” của chúng ta đã phòng xa một cách rất không để ý thiết khi nghĩ rằng nhận thức và tâm hồn của thieu nhi sẽ trở nên lệch lạc nếu phải đọc những tác phẩm văn chương không phù hợp với lứa tuổi. Họ quên , hoặc không biết đến có tác động đến một điều gì đó cực kỳ quan yếu của cái đọc đầu đời: Nếu việc đọc những tác phẩm “tầm tầm” , giản đơn , dễ dãi ở giai đoạn đầu của thế cuộc đọc sách mà cứ kéo dài và trở nên quán tính , trở nên nếp mòn , không mong gì về sau người đọc còn ít tuổi này sẽ có xác xuất tiếp thụ những tác phẩm mang tính đáp ứng các tiêu chuẩn thẩm mỹ và sự nhạy cảm cao. Một chân lí giản đơn - tuồng như đã là chân lí thì bao giờ nó cũng giản đơn - đọc , đó là cả một quá trình lâu dài. Theo thời kì , bằng sự lớn dần về nhận thức và sự chín dần trong trải nghiệm , người đọc sẽ phát hiện thêm những điều mới mẻ từ một tác phẩm cũ. Khả năng tái khám phá của người đọc , có lẽ đó chính là một trong những bí mật về sự tồn tại lâu dài của tác phẩm văn chương. Thứ hai , về phía người sáng tác , hẳn nhiều người còn nhớ câu nói nức danh của ông trùm “Tiểu thuyết mới” , Alain Robbe Grillet: “Nhà văn sẽ là kẻ suy đồi nếu khi viết mà hắn còn trông tới độc giả”. Lượng thứ sự cực đoan vốn có của một tiểu thuyết gia thuộc vào loại cá tính mạnh nhất trong văn chương Pháp đương đại , phán quyết này nói trúng cái cần phải thuộc về bản chất của sáng tạo nhà văn , đó là sự đốt cháy hết mình của chủ thể trong ngọn lửa mà chính tay anh ta nhóm lên , từ ý chí và niềm say mê của cá nhân chủ nghĩa mình. Khi ấy thì tất nhiên bạn đọc , vô luận là nam người già ấu , là quý tộc hay tiện dân , là ông giáo sư đại học hay anh tầm quất nơi góc chợ , đều biến mất , chỉ còn lại trơ trụi người viết với thế giới hư cấu của anh ta. Trên thực tiễn , khi nhiều năm rồi dư luận không ngớt lên tiếng than phiền về chất lượng của “Văn học tặng thiếu nhi ” ở Việt Nam , rằng nó đa phần là những tác phẩm thiếu sức hấp dẫn , nhạt phẩm chất hình dung , đã vậy lại thường lên giọng khuyên bảo trẻ thơ theo một cách đầy tinh thần bạc nhược áp đặt , không ướt át , giáo điều - tuồng như trẻ thơ là đối tượng chỉ đáng để xoa đầu - thì một trong những nguyên do cốt yếu là đây: Người ta mải “săn đón” thieu nhi , người ta tự tín rằng đã là bạn đọc thieu nhi thì ắt sẽ cần cái A thích cái B , và người ta nhào vào “phục vụ” thieu nhi bằng thứ thuyết duy ý chí người lớn đầy quyết liệt ấy. Kết quả chỉ là sự sinh ra của một kiểu sản phẩm văn chương mà chẳng ai đủ can đảm bảo rằng hay , trẻ thơ thì lại càng không! thật ra câu chuyện này không có gì bất ngờ. Sự nhạt phèo của dòng “Văn học phục vụ người ốm công nông binh” một thời chẳng phải đã là một tiền lệ đó sao? Càng chằm chằm vào những mục đích “cho” hoặc “phục vụ” bao lăm , thứ văn chương vị lợi này càng ở xa mục đích của nó bấy nhiêu. Ai đó có xác xuất phản đối lập luận này bằng cách report sa: cát những nếu về tác phẩm “Văn học tặng thiếu nhi ” thành công trên thế giới: Trên sa mạc và trong rừng thẳm , Không gia đình , Những cuộc xiêu dạt của Huckleberry Finn , Những cuộc xiêu dạt của Tom Sawyer , con trai vua bé , Những đứa trẻ phố Arabat , Koschya lùn , Carson trên mái nhà v.v… , hay ở Việt Nam: Dế mèn xiêu dạt ký ( Tô Hoài ) , Chú bé có tài mở khóa ( Nguyễn Quang Thân ) , tuổi nhỏ khốc liệt ( Phùng Quán ) , Đội thiếu niên du kích Đình Bảng ( Xuân Sách ) , Đất rừng phương Nam ( Đoàn Giỏi ) , Đợi mặt trời ( Phạm Ngọc Tiến ) , Cho xin một vé đi tuổi nhỏ ( Nguyễn Nhật Ánh ) v.v… Cũng đúng. Nhưng có lẽ phải chú ý , các tác giả trên vị tất đã định viết chỉ “cho thieu nhi ”. Nói cho xác thực hơn , trước tiên , họ viết cho tuổi nhỏ đã một đi không trở lại của mình. Họ viết bằng niềm hoài nhớ thiên đường đã khuất. Bằng cái viết tuấn kiệt và chìm trong cùng tận của niềm say mê , họ tạo ra một thiên đường , mới và khác , cho chính mình. Điều đó lý giải tại sao , những tác phẩm văn chương được ngầm định là “cho thiếu nhi” ấy , lại là những tác phẩm mà , áng chừng , người lớn còn thích đọc hơn cả thiếu nhi! ( Đến đây , người viết bài này không đáng cưỡng được ý muốn mở ngoặc đơn đặng nêu một sự kinh ngạc của mình. Không biết từ bao giờ và tại sao , lại phổ thông một quan điểm - chưa từng được luận chứng cho cẩn trọng - gán cái mác “Văn học tặng thieu nhi ” vào những truyện viết về loài vật và những truyện mang màu sắc cổ tích? Dế mèn xiêu dạt ký của Tô Hoài đâu chỉ là truyện về loài vật , và những bài học từ nó thì nhiều người lớn cũng còn phải học mãi , chứ chẳng riêng gì thieu nhi. Còn như Chiếc âu vàng của Hoffmann hoặc các truyện cổ tích của nhà văn Đan Mạch Andersen , thì kiên cố rồi , từ hàng trăm năm nay , đó là những tác phẩm khiến giới nghiên cứu văn chương trên toàn thế giới phải đổ xiết bao mực xuống giấy để tìm hiểu mà còn chưa xong , huống hồ thiếu nhi! ). Khi khái niệm “Văn học tặng thiếu nhi ” , một cách thực tiễn , đã thổ lộ ra nhiều bất cập đến thế , cần thiết phải xịch lại sự quan hoài từ nó sang những khái niệm khác , khả dụng hơn. Khả dụng hơn theo tức thị có sự nhận thức về nó hợp lý hơn , để từ đó hình thành chiến lược đầu tư xác đáng hơn , hiệu quả hơn. Chúng ta hãy thử nghĩ đến “Văn học đi thiếu nhi ” xem sao. “Văn học về thiếu nhi” , rất dễ hiểu , là khái niệm rõ ràng thiếu nhi như là đối tượng của sự nhận thức , khám phá , phân tích , suy ngẫm và mô tả của nhà văn. Trên phương diện này , có xác xuất hiểu nôm na rằng thieu nhi là một “đề tài” , tương đương với những “đề tài” đã trở nên quá đỗi việc quen thuộc của văn học: Chiến tranh và bộ đội , nông thôn và cuộc sống của người nông dân , thành thị và thị dân , bất công xã hội và đấu tranh giai cấp v.v… Ở phần trên bài viết này , người viết đã nhắc đến một số tác phẩm văn chương , của cả nước ngoài và Việt Nam , được cho là những tác phẩm “Văn học tặng thieu nhi ” thành công , nhưng thực ra thì đa số trong đó phải được nhìn nhận như những nếu về sự thành công của tác phẩm “Văn học đi thiếu nhi ”. Hướng về thiếu nhi , lấy thieu nhi làm đối tượng của sự phản ánh văn chương , mỗi tác phẩm dựng lên một thế giới sinh động , mang đến cho người đọc - người đọc nhìn chung - một trải nghiệm đáp ứng các tiêu chuẩn thẩm mỹ và sự nhạy cảm và một chiều kích nhân sinh đặc thù. Hoặc , nó cho người đọc cùng nhân vật thiếu nhi dấn bước vào những cuộc xiêu dạt kỳ thú , tận hưởng cảm giác xứ lạ , đối diện với những thách thức hiểm nghèo , và rồi từ đó tự phát hiện ra những nguồn sức mạnh còn chưa được biết đến trong bản thân mình. Hoặc , nó tái hiện những cảnh đời trẻ thơ đa dạng trong những bối cảnh xã hội khác nhau , trộn lẫn sự khắc nghiệt của thực tiễn với sự bay bổng của ước mơ , làm bật lên những phẩm chất tốt đẹp của con người trên nền màu trông tối và xấu của nỗi vô vọng. Hoặc , như những tác phẩm hiện thực chủ mẹ nuôi mực nhất , nó đi từ sự mô tả số phận thảm kịch của những nhân vật thiếu nhi đến lời tố giác gang thép những bất công trong đời sống xã hội… Tóm lại , khi đã thoát khỏi - thậm chí là không để ý quan hoài đến - những request của việc viết “cho thiếu nhi” , phải “phù hợp với lứa tuổi thieu nhi ” mang đầy tính thuyết duy ý chí , người viết kiên cố sẽ có nhiều không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc hơn và dễ bề thành công hơn khi sáng tác tác phẩm “Văn học đi thiếu nhi ”. Rất cần thiết phải nhấn mạnh điều này khi trong việc phát động các cuộc sáng tác văn chương thieu nhi bây giờ - kèm theo nó là sự đầu tư khá tốn kém về thời kì , công sức , tiền nong cho các khâu chấm giải , trao giải , ấn loát và phát hành tác phẩm - request viết “Văn học tặng thieu nhi ” vẫn luôn được đặt ra chuẩn bị ráo riết. Một cách tất nhiên. Bất chấp hiện tượng phổ thông là: Trước khi tác phẩm “Văn học cho thieu nhi” đến được với thiếu nhi , nó buộc phải thuyết phục được bộ lọc và hà bao của các bậc cha mẹ cái đã , nói cách khác , trước tiên nó phải là “Văn học cho người lớn”! Vậy , nên là “Văn học tặng thiếu nhi ” hay “Văn học về thiếu nhi”? Câu hỏi này , thiết nghĩ , không chỉ là câu hỏi với các nhà văn , mà còn là câu hỏi với các nhà xuất bản , với những người làm sách lõi đời trong thị trường của hoạt động đọc văn học
. Minh họa: Lê Phương.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét